Làng nghề cót Từ Liêm (Lâm Đồng) làm du lịch

Tấm cót, cái tên làm nên thương hiệu làng cót
Làng nghề chuyên đan cót
“Xóm này bà con chuyên nghề đan cót, từ những năm 1988 đến giờ. Gần 40 năm, người Từ Liêm 2 vẫn gắn bó với những chiếc nong, né, với những tấm cót được làm từ cây tre”, ông Nguyễn Văn Phụng - Bí thư Chi bộ thôn Từ Liêm 2, xã Nam Ban Lâm Hà chia sẻ. Ông Phụng cũng là một trong những hộ giữ nghề truyền thống đan cót của làng.
Ông Nguyễn Văn Phụng nhớ lại, từ năm 1988, bà con vùng đất Hà Nam vào Nam Ban sinh sống, mang theo nghề đan cót quê hương. “Cót là những tấm phẳng được đan bằng nan tre, dùng để thưng vách kiểu cũ. Hồi mới vào, dân còn nghèo, các hộ mua cót về thưng vách, thưng mái, bên làng sản xuất nhiều để cung cấp. Sau này, cùng với sự phát triển của nghề tằm khu vực Nam Ban, Đông Thanh, bà con chuyển sang làm nong, làm né chuyên phục vụ các nhà trồng dâu nuôi tằm.
Nguyên liệu sản xuất là những cây lồ ô, một giống tre đặc biệt của Lâm Đồng. Lồ ô được trồng và thu hoạch từ vùng Đam Rông, bà con làng nghề mua thân tươi. Sau đó, lồ ô được ngâm để tránh mối mọt. Sau khi vớt lên, phơi khô, tùy công đoạn mà lồ ô được phân ra thành khúc để làm đũi, uốn tròn làm cạp nong, tách thành nan để đan nong, né, cót quây dâu. Sau khi phơi khô, sản phẩm nong, né đã sẵn sàng đưa vào sử dụng.
Thời thịnh trị của “làng cót”, bà con cung cấp hàng vạn sản phẩm mỗi năm, từ nong, né, cót quây dâu. Còn hôm nay, do thay đổi của công nghệ nuôi tằm, né tre của làng không còn được nhiều gia đình sử dụng. Bà con chỉ còn làm cót để quây tre vì dễ sử dụng, giữ dâu tươi lâu. Nhiều hộ nuôi tằm con vẫn sử dụng loại nong to, mỏng, nhẹ của làng cót. Ông Phụng cho biết, những năm cao điểm, cả làng có tới hơn 70 hộ làm nghề đan lát. Còn hiện tại, quy mô sản xuất không còn nhiều như thời điểm trước.
Làng cót làm du lịch
Theo bà Nguyễn Thị Công, một người có nhiều năm làm nghề đan cót: “Tới mùa mưa, bà con mới đan cót, đan nong nhiều vì nhiều dâu, nhiều hộ có tằm. Mùa khô, chủ yếu bán các sản phẩm phục vụ sinh hoạt, phục vụ du lịch như rổ, rá, đó, gùi…”. Bà Công nhận xét, sau một thời gian dài sử dụng các loại vật dụng làm từ nhựa, kim loại, hiện giờ cư dân địa phương có xu thế quay trở lại sử dụng các loại công cụ phục vụ đời sống làm từ chất liệu tự nhiên, tre nứa “như thời các cụ”.
Không chỉ làm và bán các loại vật dụng phục vụ sinh hoạt hằng ngày, người làng “cót” còn định hướng phục vụ các loại sản phẩm đặc biệt như nón lá, các đồ trang trí bằng tre như bộ rổ rá nhỏ dùng để trang trí, các loại nơm, đó, lờ đánh bắt cá, các loại gùi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Bà Nguyễn Thị Tấm, người gắn bó với nghề đan tre từ tuổi lên 10 cho biết, làng cót nằm ngay trục đường từ Đà Lạt tới thác Voi, nhiều du khách thích chạy xe máy trên cung đường rất đẹp này. Người trong xóm làm các loại vật dụng, vừa để cung cấp cho cư dân địa phương, vừa phục vụ du khách, cung cấp cho các khu du lịch, quán cà phê làm đồ trang trí.
“Chúng tôi chuyển hướng từ làm cót, nong, né sang làm thêm các vật dụng sinh hoạt. Với các sản phẩm đặc thù như gùi cho đồng bào đi rẫy, chúng tôi đặt từ các làng nghề dân tộc từ Đạ Huoai, Di Linh để cung cấp. Sau thời gian trầm lắng, nghề tre đan của cư dân đã bắt đầu khởi sắc, đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu của thị trường và phục vụ du lịch”, bà Tấm chia sẻ về mục tiêu của làng cót trên mảnh đất mới.
Diệp Quỳnh








