Lễ, Tết - “Cú hích” cho phát triển du lịch Quảng Ninh

Các ca nương hát múa cửa đình tại Lễ hội đình Tràng Y.
Quảng Ninh hiện có hơn 100 lễ hội, trong đó 76 lễ hội đã được kiểm kê đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể. Các lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Lễ hội đền Cửa Ông, lễ hội Tiên Công, lễ hội Bạch Đằng, lễ hội đình Trà Cổ, lễ hội đình Quan Lạn… Ngoài ra, còn các lễ hội hiện đại như: Hội Mùa vàng, Hội Hoa sở, Hội Soóng cọ tổ chức tại các xã, phường khu vực miền Đông của tỉnh. Theo T.S Lý Viết Trường (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội), lễ hội không chỉ thu hút dòng khách lớn, kích thích chi tiêu mà còn tạo dựng hình ảnh riêng, không còn được nhìn nhận đơn thuần như hoạt động văn hóa mà đã trở thành một “ngành” của công nghiệp du lịch và giải trí với tác động sâu rộng.
Các sự kiện lễ hội đã trở thành một điểm đến quan trọng trong hệ sinh thái du lịch đương đại, giúp kéo dài mùa du lịch, làm giảm tính mùa vụ vốn là một thách thức lâu dài của ngành du lịch. Ngoài ra, các sự kiện còn thúc đẩy nhu cầu du lịch trải nghiệm, khi du khách có xu hướng tìm kiếm hoạt động mang tính tham gia, tương tác và học hỏi.
Về phương diện kinh tế, lễ hội là cơ hội để phát triển các dịch vụ bổ trợ như: Lưu trú (homestay), ăn uống, bán nông sản, chế biến ẩm thực truyền thống và cung cấp các dịch vụ trải nghiệm. Trong các dịp lễ tết, nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, kéo theo doanh thu của các hộ dân kinh doanh dịch vụ. Đối với người dân mùa lễ hội còn là dịp tiêu thụ sản vật địa phương như: Gạo nếp, rượu truyền thống, thuốc nam, mật ong, hồi, quế, rau rừng… mang lại nguồn thu đáng kể.

Lễ hội đại phan của người Sán Dìu xã Hải Hoà.
Quảng Ninh cũng có hệ thống lễ tết truyền thống vẫn được duy trì, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa tín ngưỡng nông nghiệp, chu kỳ mùa vụ và cấu trúc gia đình, dòng họ như: Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh, tết Đoan Ngọ, Tết tháng Bảy, Tết cả và Tết làng của người Dao. Bên cạnh hệ thống tết, hai lễ quan trọng là lễ Cầu mùa (người Dao và Sán Chỉ), lễ Kiêng gió (người Dao), lễ Đại phan của người Sán Dìu, hội Hát tháng ba của người Sán Chỉ (16/3 âm lịch)... là sự kiện tiêu biểu. Các nghi lễ vốn diễn ra trong phạm vi gia đình hay dòng họ nay được điều chỉnh mềm mại hơn, phù hợp với hoạt động tham quan của du khách nhưng vẫn giữ được tính thiêng, giữ được bản sắc các dân tộc Quảng Ninh.
Khả năng chuyển hóa di sản lễ hội thành sản phẩm du lịch thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết chính các nghi lễ, phong tục và diễn xướng là nguồn nội dung cho sản phẩm trải nghiệm. Chẳng hạn, du khách có thể tham dự phiên chợ đầu năm, xem hoặc trải nghiệm gói bánh coóc mò, bánh tài lồng ệp, quan sát lễ cúng tổ tiên, trải nghiệm không khó tảo mộ vào ngày thanh minh, hoặc tham gia các trò chơi dân gian và lễ cầu mùa. Những hoạt động này nếu được tổ chức đúng mực sẽ trở thành sản phẩm đặc thù, khác biệt hoàn toàn so với các loại hình du lịch đại chúng.
Nhìn chung, lễ tết, hội hè không chỉ là hoạt động văn hóa, nghi lễ hay diễn xướng truyền thống mà còn là nguồn lực chiến lược trong phát triển du lịch, thúc đẩy nhận diện điểm đến, gia tăng thời gian lưu trú, kích hoạt chi tiêu, tạo sản phẩm trải nghiệm độc đáo và mở rộng cơ hội phát triển kinh tế văn hóa. Trong bối cảnh các điểm đến cạnh tranh mạnh về bản sắc, lễ hội trở thành phương tiện định vị hình ảnh và tạo lợi thế khác biệt, đặc biệt đối với những địa bàn có nền văn hóa bản địa phong phú như ở Quảng Ninh.
Cũng theo T.S Lý Viết Trường, để khai thác hiệu quả lễ tết hội hè, cần chuẩn hóa mô hình tổ chức lễ hội gắn với du lịch, xây dựng bộ tiêu chí tổ chức lễ hội bảo đảm an toàn - văn hóa - thân thiện với du khách. Việc phân định phần lễ thiêng và phần hội công cộng phải được thực hiện một cách linh hoạt, nhằm giữ gìn tính nguyên bản của nghi lễ mà không tách rời cấu trúc truyền thống. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống bảng chỉ dẫn, hướng dẫn tham quan và bố trí đội ngũ hỗ trợ cộng đồng, giúp du khách tiếp cận lễ hội đúng cách, không xâm phạm không gian thiêng nhưng vẫn có cơ hội trải nghiệm văn hóa bản địa.
Trên cơ sở lịch lễ hội hằng năm của các dân tộc Quảng Ninh, có thể xây dựng các tour chuyên đề được thiết kế dưới dạng chuỗi gồm: Trekking, chợ phiên, tham quan bản, trải nghiệm ẩm thực, diễn xướng và tham gia lao động sản xuất, qua đó tạo ra giá trị trải nghiệm trọn vẹn. Các hộ làm du lịch cộng đồng cần được hỗ trợ xây dựng “câu chuyện bản sắc” riêng cho sản phẩm của mình, tạo dấu ấn độc đáo giữa các thôn bản. Cuối cùng giá trị lớn nhất của lễ hội đối với du lịch trải nghiệm là nằm ở khả năng “kể chuyện”. Mỗi lễ hội là một câu chuyện gắn với lịch sử, tín ngưỡng và đời sống sinh hoạt của cộng đồng. Khi câu chuyện được kể một cách hấp dẫn, chân thực và tôn trọng văn hóa nguyên bản, sản phẩm du lịch sẽ trở nên giàu cảm xúc, giúp du khách cảm thấy họ không chỉ đi tham quan mà còn được đồng hành cùng đời sống văn hóa của người dân địa phương.
Bên cạnh đó, các giá trị di sản còn có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm “bổ trợ” như: Tour tìm hiểu ẩm thực lễ tết, workshop làm bánh truyền thống, lớp học hát dân ca, trải nghiệm làm thầy cúng (phiên bản diễn giải), hay các tuyến trekking kết hợp tham quan làng bản và nghe kể chuyện dân gian. Quảng Ninh nên chú trọng xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm theo mùa lễ hội; đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên bản địa và “người kể chuyện di sản”; đầu tư hạ tầng cho du lịch cộng đồng; bảo tồn kiến trúc nhà trình tường, tiếng nói chữ viết, trang phục, lễ tục và diễn xướng dân gian; kết hợp sưu tầm và lập hồ sơ di sản phi vật thể.
Huỳnh Đăng









