Hoạt động của ngành

Lâm Đồng: Phát triển du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số

Cập nhật: 11/03/2026 09:08:37
Số lần đọc: 30
Trong giai đoạn 2026 - 2030, toàn tỉnh xây dựng 27 điểm du lịch cộng đồng tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với định hướng lấy văn hóa bản địa làm gốc, lấy cộng đồng làm chủ thể và lấy thiên nhiên làm nền tảng phát triển bền vững. Từ buôn làng đồng bào K’ho dưới chân núi Lang Biang, đến buôn làng của đồng bào M’nông, Êđê, Mạ, Chăm, Churu đang dần hình thành một mạng lưới du lịch cộng đồng.


Lễ hội truyền thống thu hút du khách

Đưa văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch

Du lịch cộng đồng không đơn giản là đưa khách về buôn, mà là cộng đồng ấy dùng di sản văn hóa của dân tộc mình và không gian thiên nhiên nơi mình đang sống để phát triển cuộc sống hôm nay nhưng không đánh mất ngày mai. Ở đó, không gian văn hóa bản địa được coi là cốt lõi của sản phẩm du lịch.

Tại Tà Nung (phường Cam Ly - Đà Lạt), nơi cộng đồng K’ho sinh sống lâu đời, đã trở thành điểm đến có sức hút bởi không gian văn hóa truyền thống bên cạnh nông nghiệp đặc trưng là những đồi cà phê, nông trại hoa. Những ngôi nhà dài, tiếng cồng chiêng, lễ hội được tái hiện bài bản đã trở thành sản phẩm trải nghiệm thay vì chỉ là trình diễn phục vụ khách.

Phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là bước đi quan trọng. Người dân là chủ thể, đưa giá trị văn hóa của dân tộc mình đến với du khách và được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch. Qua đó, các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nếp ăn nếp ở sẽ được bảo tồn bền vững. - Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Ở thôn Klong Trao (xã Di Linh), Ka Sá (xã Sơn Điền) hay Đạ Nghịch (phường 3 Bảo Lộc) đều hướng đến bảo tồn làng truyền thống của các dân tộc K’ho, Mạ. Không gian làng bon với cấu trúc nhà ở, nhà sinh hoạt cộng đồng, bến nước, rẫy nương chính là bảo tàng sống về tri thức bản địa.

Ở phía Tây tỉnh, chuỗi điểm du lịch cộng đồng của người M’nông như: Bon Pi Nao (xã Nhân Cơ), Bon N’Jiêng (phường Đông Gia Nghĩa), Bon N’Jang Lú (xã Đức An), Bon Ja Ráh (xã Nâm Nung), hay bon Đắk Rmoan (phường Nam Gia Nghĩa), du lịch cộng đồng dựa trên đơn vị cư trú truyền thống “bon”; buôn Buôr, buôn Nui (xã Cư Jut) của đồng bào Êđê với làng nghề truyền thống, nhà sàn truyền thống, hoạt động văn hóa truyền thống. Trong đó, Bon Pi Nao được định hướng trở thành điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu của cả nước, đạt tiêu chuẩn ASEAN.

Vũ điệu xoang của các cô gái K’ho trong đêm hội

Bên cạnh bản sắc văn hóa truyền thống, khai thác lợi thế tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh như: núi lửa Nâm Kar với địa hình độc đáo, thảm thực vật phong phú; hồ Tà Đùng như “Vịnh Hạ Long trên cao nguyên” đang trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách yêu thiên nhiên. Ở xã Đam Rông 4, suối nước nóng Đạ Long mở ra hướng phát triển du lịch nghỉ dưỡng cộng đồng gắn với chăm sóc sức khỏe. Đồi thông biên giới Quảng Trực cũng có thể trở thành không gian trải nghiệm sinh thái, cắm trại, tìm hiểu văn hóa M’nông.

Tuy nhiên, thiên nhiên là tài sản không thể tái tạo nếu khai thác quá mức; nên các điểm đến cần tính toán sức chứa, kiểm soát xây dựng homestay, xử lý rác thải và nước thải, ưu tiên vật liệu bản địa. Qua đó, cộng đồng các dân tộc sẽ hiểu rằng giữ rừng, giữ hồ, giữ thác, giữ suối chính là giữ sinh kế lâu dài để phát triển bền vững.

Nghề làm gốm Churu

Động lực kinh tế từ làng nghề

Ngoài ra, các làng dệt thổ cẩm K’Long (xã Hiệp Thạnh), làng dệt Đam Pao (xã Phú Sơn Lâm Hà), làng dệt B’Nớ C (xã Lạc Dương), nghề gốm Churu tại làng Krăng Gọ, Hamanhai (xã Quảng Lập) được duy trì, phát triển du lịch cộng đồng. Đặc biệt, mô hình Du lịch cộng đồng văn hóa Chăm tại xã Bắc Bình với nghề làm gốm của người Chăm, không dùng bàn xoay, nung lộ thiên, mỗi sản phẩm in đậm bàn tay cần mẫn của nghệ nhân và những ước vọng tâm linh được gửi gắm.

Nghệ nhân Lương Thị Hòa có gần 50 năm làm gốm chia sẻ: “Trước đây, chúng tôi làm gốm chủ yếu để phục vụ sinh hoạt và bán lẻ. Nay khách du lịch đến xem, muốn tự tay nặn thử, nghe kể về ý nghĩa hoa văn, về cách chọn đất, cách nung, tôi thấy nghề của mình được trân trọng hơn. Con cháu thấy nghề có thu nhập, có người tìm hiểu thì muốn học, muốn tiếp nối nghề truyền thống”. Khi du khách mua một sản phẩm gốm hay tấm thổ cẩm, họ mua cả vẻ đẹp văn hóa phía sau sản phẩm của làng nghề. Du lịch cộng đồng vì thế đã góp phần truyền lửa cho thế hệ kế cận.

Tìm hiểu bản sắc văn hóa của người K’ho - xã Đam Rông 4

Cùng với đó, ở mỗi điểm đến du lịch cộng đồng, mỗi bon làng của người Mạ, K’ho, Churu, M’nông, Êđê, Chăm, cùng các nông sản cà phê, rau, hoa, cây trái... đã trở thành sản phẩm trải nghiệm. Du lịch nông nghiệp, tham quan các nông trại gắn trực tiếp với sinh kế hiện có sẽ phù hợp với điều kiện hạ tầng ở vùng sâu.

Để các điểm đến du lịch cộng đồng thực sự phát huy hiệu quả, trong thời gian tới, ngành văn hóa, thể thao và du lịch Lâm Đồng có nhiều giải pháp như: đào tạo kỹ năng làm du lịch; xây dựng các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác để cộng đồng cùng làm, cùng hưởng lợi; bảo tồn nguyên gốc văn hóa; liên kết các điểm thành tuyến, cụm để kéo dài thời gian lưu trú.

Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc nhấn mạnh thêm: “Du lịch cộng đồng sẽ lấy việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống làm trung tâm, vì thế không chạy theo số lượng khách, mà hướng đến chất lượng trải nghiệm và lợi ích lâu dài cho người dân. Từ đó hướng đến xây dựng thương hiệu du lịch bản sắc”.

Có thể hình dung một bức tranh đa sắc, tiếng cồng chiêng giữa buôn Mạ, khói bếp trong bon M’nông, bàn tay nặn gốm của nghệ nhân Chăm, Churu, sắc thổ cẩm của người K’ho, hương cà phê Tà Nung, thảm rừng xanh dưới chân núi lửa Nâm Kar... Du lịch cộng đồng không chỉ góp phần tăng thu nhập, ổn định đời sống, mà còn tạo dựng thương hiệu du lịch đặc thù dựa trên bản sắc. Qua đó, cộng đồng các dân tộc tự tin gìn giữ và khoe nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Quỳnh Uyển

Nguồn: Báo Lâm Đồng - baolamdong.vn - Đăng ngày 11/3/2026

Cùng chuyên mục